Tiêu đề của tôi nội dung trang
Loading...
  • American
  • Tiếng Việt
  • THÔNG BÁO

    Công ty TNHH Công Nghệ TEGOX trân trọng thông báo đến quý khách hàng và Đối tác thời gian nghỉ tết Nguyên Đán 2023

    Nghỉ từ ngày 18.01.2023               Đến hết ngày 29.01.2023

    Đi làm trở lại từ thứ Hai, 30.01.2023



    Kính chúc quý khách hàng và đối tác có một kỳ nghỉ lễ vui vẻ!

     

    MÔ HÌNH MÁY TÍNH DỰ ĐOÁN KHẢ NĂNG KHÁNG THUỐC DIỆT NẤM

    Ngày:
    29/09/2023

    Lượt xem:

    291

    Nguyên nhân gây bệnh chính trên lá cây lúa mì là do nấm septoria tritici. Khi mầm bệnh septoria tritici (Zymoseptoria tritici) có độ nhạy suy giảm với strobilurins, làm giáng một đòn mạnh vào thuốc kiểm soát dịch bệnh – thuốc diệt nấm.

    Ngày nay các đột biến gen G143A đã lan rộng và thuốc diệt nấm liên quan đến phương thức hoạt động này không còn để kiểm soát căn bệnh này nữa. Việc kháng thuốc luôn phát triển và là mối đe dọa, quan trọng là chúng ta học hỏi từ nó. Do đó hướng dẫn quản lý kháng thuốc diệt nấm được xây dựng trên kinh nghiệm thực tế. Tuy nhiên từ các kết quả quan sát thực tế từ đồng ruộng, hay trồng cây thử nghiệm, điều này có nghĩa là mầm bệnh chiến thắng cuộc đua. Khả năng dự đoán tình trạng kháng thuốc, kiểm tra có thể thay đổi nguy cơ kháng thuốc và là mục tiêu nghiên cứu chính.

    Thử nghiệm trên cánh đồng

    Để kiểm tra hiện tượng kháng thuốc, AHDB đã tài trợ cho các thử nghiệm thực địa (dẫn đầu bởi ADAS) để kiểm tra khả năng kiểm soát septoria bằng hai nhóm tác động chính liên quan đến sự thay đổi theo hướng giảm độ nhạy với thuốc – SDHI và DMI (azole). Ví dụ theo quy định giới hạn số lần phun: 2 lần phun thuốc diệt nấm SDHI mỗi mùa có thể hạn chế việc phải kết hợp nhiều loại và phun luân phiên nhiều lần.

    Công trình cũng kiểm tra liệu việc kháng thuốc có bị ảnh hưởng bởi việc chia liều dùng hay không. Nghiên cứu tổng liều thuốc diệt nấm được áp dụng trong một hoặc nhiều lần phun. Kết quả rất khác nhau, trong một số thử nghiệm, việc chia liều làm tăng khả năng chọn lọc, nhưng ở những thử nghiệm khác thì không. Do có sự khác biệt và hay thay đổi này nên cần một lượng lớn các thử nghiệm thực địa và diễn ra trong nhiều năm để đưa ra kết luận chắc chắn về cách giữ cân bằng trong quản lý kháng thuốc. Vì thế các nhà nghiên cứu đã tìm cách khác để xây dựng được khả năng kiểm tra tốt hơn.

    Mô hình máy tính

    Một phần nghiên cứu của Tiến sĩ Isabel Corkley do AHDB tài trợ bởi Rothamsted Research sử dụng một mô hình xem xét nhiều thông số, bao gồm cả mức độ ảnh hưởng của thuốc diệt nấm đến sự phát triển của mầm bệnh. Cách tiếp cận này cho phép thực hiện nhiều kịch bản “nếu trường hợp này” để kiểm tra sự đánh đổi liên quan đến các chiến thuật quản lý việc kháng thuốc. Nó có thể được thực hiện tương đối nhanh mà không cần ngân sách lớn để trả cho các thực nghiệm tại thực địa.

    Các kết quả đối với thuốc diệt nấm có nguy cơ kháng thuốc cho thấy:

    • Nhìn chung hiệu quả diệt nấm có ảnh hưởng lớn đến áp lực chọn lọc đối với các chủng kháng thuốc (xuất hiện ban đầu ở tần suất thấp)
    • Thuốc diệt nấm càng hiệu khả thì khả năng chọn lọc kháng thuốc càng nhanh (cho dù tổng liều được phun 1 lần hay phun 2 lần)
    • Sử dụng tổng liều thấp hơn sẽ làm giảm chọn lọc kháng thuốc
    • Trung bình việc chia liều làm tăng chọn lọc kháng thuốc (phạm vi từ 0 – 40%)
    • Hiệu quả phân chia liều lượng là lớn nhất đối với thuốc diệt nấm có thời gian diệt nấm trung bình (áp dụng cho hầu hết các loại thuốc diệt nấm có bán trên thị trường)
    • Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến thời gian hoạt động diệt nấm (sự thay đổi trong hiệu ứng phân chia liều lượng được quan sát trong các thử nghiệm thực địa)

    Kết luận tạm thời

    Công việc lập mô hình và thí nghiệm hiện trường cho thấy hiệu ứng phân chia liều dùng rất khác nhau. Sự thay đổi này có nghĩa là có thể mất nhiều năm để tạo ra dữ liệu mạnh mẽ cần thiết để thay đổi quản lý kháng thuốc. Hướng dẫn của FRAG (Fungicide Resistance Action Group) dựa trên kiến thức sẵn có tốt nhất và cần được tuân theo khi thiết kế chương trình quản lý bệnh hại. Luôn đặt mục tiêu giảm thiểu số lượng phun xịt tuân theo chường trình giảm thiểu tổng liều thuốc diệt nấm có nguy cơ và duy trì mức độ kiểm soát bệnh có thể chấp nhận được.

    Các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) nhằm trì hoẵn và hạn chế sự tiến triển của bệnh là rất quan trọng. Đối với septoria tritici, bao gồm việc lựa chọn giống có xếp hạng kháng bệnh trong danh sách khuyến nghị cao (RL) và gieo hạt (tránh tiếp xúc với vào tử gây bệnh).

    Theo TegoX dịch thuật

    Link: https://news.agropages.com/News/NewsDetail---47701.htm

     

    tin tức liên quan

    VFI 7-6, Lô B219A - B219B, Đường C, KCN Thái Hòa, Xã Đức Lập, Tỉnh Tây Ninh, Việt Nam

    support@tegox.vn

    +84 272 249 6345